Căn bệnh u ác tính thường gặp ở độ tuổi 20-40, phát triển và tái phát nhanh

U nguyên bào tủy có thể gặp ở người lớn và trẻ em, nhưng hay gặp ở trẻ em nhiều hơn. Ở người lớn, u nguyên bào tủy thường gặp ở độ tuổi 20-40. Hay gặp ở nam nhiều hơn nữ.

Khối u ác tính, phát triển và tái phát nhanh

PGS.TS Đồng Văn Hệ, Giám đốc Trung tâm Phẫu thuật Thần Kinh, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho biết: U nguyên bào tủy là khối u ác tính, phát triển và tái phát nhanh.

Cho đến nay, nguyên nhân gây ra bệnh này vẫn chưa được biết rõ. Có một tỉ lệ nhỏ mắc bệnh ở trẻ em có liên quan đến đột biến gen, phát triển từ thời kì phôi thai.

U nguyên bào tủy phần lớn là ở tiểu não (phần thấp phía sau của não), tiến triển rất nhanh. Tế bào thường lan tràn theo dịch não tủy - chất lỏng bao quanh não và tủy sống. Khối u này hiếm khi di căn đến các cơ quan khác của cơ thể ngoài hệ thống thần kinh trung ương.

PGS.TS Đồng Văn Hệ cho biết thêm: Do khối u thường phát triển từ tiểu não nên người bệnh thường có các triệu chứng: Đi lại khó, mất thăng bằng, mất điều hòa các động tác của chi. Nếu khối u lớn sẽ gây chèn ép và gây tắc lưu thông của dịch não tủy, đau đầu; nôn, buồn nôn; nhìn mờ, nhìn đôi; rối loạn nhận thức; hôn mê, thậm chí tử vong.

PGS Hệ đang khám cho bệnh nhân.

Nếu khối u đã lan tràn đến tủy sống, có thể gây các triệu chứng do tổn thương tủy như: Đau lưng, yếu liệt tay/chân, rối loạn đại tiểu tiện.

Để chấn đoán U nguyên bào tủy, phương pháp chụp Cộng hưởng từ (MRI) là quan trọng nhất. Cộng hưởng từ giúp đánh giá chính xác hình ảnh, vị trí, kích thước, mức độ xâm lấn của khối u. Chụp cộng hưởng từ cả não và toàn bộ tủy sống là cần thiết để chẩn đoán bệnh.

Bên cạnh đó, các bác sĩ có thể chẩn đoán xác định mô bệnh học của U (là tế bào u gì): dựa vào kết quả đọc giải phẫu bệnh sau khi lấy bệnh phẩm u để xác định bản chất u và phân loại u, giúp tiên lượng và hướng điều trị; Chọc dịch não tủy: xét nghiệm dịch não tủy lấy từ tủy sống: kiểm tra sự lan tràn của tế bào u xuống tủy sống, thường thực hiện sau phẫu thuật.

Dựa vào kích thước, vị trí, độ tuổi của người bệnh và tình trạng sức khỏe, bác sĩ có các lựa chọn điều trị cho phù hợp, nhưng phần lớn các trường hợp là lựa chọn phương pháp phẫu thuật.

Mục đích của phẫu thuật nhằm loại bỏ tối đa khối u, giảm chèn ép não, có bệnh phẩm để xác định bản chất u dựa trên giải phẫu bệnh. Trong các trường hợp khi khối u lớn, chèn ép, gây giãn não thất (ứ nước não tủy trong não), người bệnh có biểu hiện cấp cứu, bác sĩ có thể tiến hành phẫu thuật dẫn lưu nước não tủy trước để làm giảm chèn ép hoặc phẫu thuật đồng thời với phẫu thuật cắt u.

Các điều trị bổ trợ sau phẫu thuật:

- Xạ trị bằng các chùm tia năng lượng cao như tia X hoặc proton

- Xạ trị ổ mổ phần u còn lại sau phẫu thuật

- Xạ trị toàn não và tủy khi có khối u có xuất hiện tại các vị trí khác của não và tủy sống

Hóa trị: Dựa vào phân loại mô bệnh học (phân loại dưới nhóm) của tế bào u để lựa chọn điều trị.

Theo Ngọc Minh/Trí thức trẻ Link Gốc:           Copy Link
http://ttvn.toquoc.vn/doi-song/can-benh-u-ac-tinh-thuong-gap-o-do-tuoi-20-40-phat-trien-va-tai-phat-nhanh-8202011392249718.htm

Tags: 20 40  |  não tủy  |  tủy sống  |  phát triển  |  chèn ép  |  lan tràn  |  Cộng hưởng  |  Lựa chọn  |  điều trị  |  phân loại